sự trầm cảm và những căn bệnh thần kinh khác đã tạo ra một sự mong đợi về phần của những người đang phải chịu đựng những triệu chứng này rằng việc uống một viên thuốc có thể có hiệu quả với mọi đau đớn và rắc rối của họ. Những bài học cơ bản nhất về tình yêu mà tôi học được trong khoá học đã được các bậc cha mẹ, những người vợ người chồng và con cái của những người bị mắc chứng Alzheimer4, tâm thần phân liệt hay bị liệt tứ chi kể cho tôi nghe. Tôi luôn luôn biết ơn ông về việc có đủ can đảm để làm như vậy.
Nhưng rất ít người mà tôi đã tiếp xúc cảm thấy họ đã nhận được tình yêu như vậy. Thật khó để cho qua một ảo ảnh dễ chịu nhưng việc xây dựng một cuộc sống hạnh phúc bên ngoài những niềm tin không thích ứng với thế giới bao quanh chúng ta còn khó hơn nhiều. Liệu có đáng không khi mà chúng ta từ một tình trạng hoàn hảo, trần truồng và bất tử biến thành những người phải lao động và biết xấu hổ? («Con chỉ có thể ăn miếng bánh mì có được từ mồ hôi chảy ròng trên mặt con»).
Sự hoàn hảo của họ giống như sự hoàn hảo của bài tụng ca trong đám tang, là một chức năng của ký ức có chọn lọc. Ví dụ, một trong những phương cách thông thường chống lại thái độ lo âu là hoàn toàn thả lỏng cơ bắp. Một khi chúng ta nhận thức ra rằng quả thực có sự tồn tại dưới ý thức của chúng ta sự pha trộn giữa những khao khát, những sự phản kháng và động cơ ám ảnh đến hành vi của mình thì chúng ta nên tiến hành một bước quan trọng để tự hiểu mình.
Những người tuyệt vọng có xu hướng tự nhiên để tập trung vào những «triệu chứng» của họ: buồn, thiếu sinh lực khó ngủ, ăn không ngon miệng, không có khả năng để hài lòng. Mọi người thường tới chổ chúng tôi xin thuốc. Khi tôi gợi ý với họ rằng những mong đợi của chúng ta đã là tốt hay xấu, thường có kết quả là họ nhìn tôi đầy vẻ nghi ngờ bởi vì đã từ lâu, họ chẳng mong đợi gì ngoài những điều tồi tệ nhất.
Điều này đòi hỏi những thông tin chính xác và khả năng để biến nó thành hiểu biết có ích. Giống như một bậc phụ huynh thông thái, ông chỉ cho chúng ta hướng đi đúng…Với một chiếc găng tay bằng nhung. Đó là giới hạn đối với «các phép màu» bị chuyển hoá.
Cài mà tháng năm dạy tôi về Gordon Livingston là dù tình hình có tồi tệ đến đâu cũng không thành vấn đề, những điều mà chúng tôi chia xẻ giống như là cô bé Alice ở xứ sở kỳ diệu. Nó là mục đích của tất cả những cuộc đối thoại tâm lý học để chữa bệnh. Điều kinh khủng nhất đối với người già là cảm giác chẳng ai cần đến mình, không ai lắng nghe mình.
Niềm tin vào kỷ luật có nguồn gốc từ khái niệm của Đạo Thiên Chúa về Tội Tổ tông đã khiến cho tất cả chúng ta khi sinh ra đã có sẵn một vết nhơ trong tâm hồn mà chúng ta phải rửa sạch với sự giúp đỡ của cha mẹ hoặc nhà thờ. Tôi thường nhận thấy người ta ngạc nhiên trước những cách nhớ lại khác nhau về sự nuôi dưỡng mình khi họ nói chuyện với anh chị em ruột. Tôi thường hỏi mọi người liệu rằng họ có thực sự nghĩ rằng việc thiếu hiểu biết về trẻ em cũng là một phần của vấn đề hay không.
Trong những phiên bản của quá khứ, cha mẹ luôn yêu mến và quan tâm tới nhau và tới con cái mà không một lời giận dữ. Sự tự thú có thể tốt cho tâm hồn nhưng nếu nó không kèm theo sự thay đổi thái độ, nó vẫn chỉ là những lời nói mà thôi. Rất dễ để xem xét làm thế nào mà chúng ta rơi vào tình trạng bị trói buộc như thế này.
Hãy nghĩ về những thứ lặt vặt, những sự khinh thường, và quan trọng nhất, những giấc mơ chưa thành hiện thực của chúng ta. Một ví dụ là lời khuyên nổi tiếng «Hãy cẩn thận với những điều mà chúng ta ao ước». Khi các cuộc hôn nhân trượt dài sang sự xa lạ thù địch, hiếm khi chúng trở thành một tiến trình hài hoà.
Có một loại cam kết để không thay đổi trong gia đình. Chối bỏ điều đã làm là một cách khác mà mọi người thường tự nói dối mình. Khi nghe câu chuyện này, ông bác sĩ bèn phê phán rằng thật sai lầm khi bạn phê bình một người vợ đang mệt mỏi sau một ngày làm việc dài lê thê.